Thứ ba 20/11/2018 Trang nhất » Nghĩa Trang » Tin tức

Danh mục

Giới thiệu

Giới thiệu về NghiaTrang.NET

Khi lập trang web này, chúng tôi muốn giới thiệu đến quý vị một Nghĩa trang công viên đẹp, vì hiện nay thông tin về đất nghĩa trang thật ít ỏi, để khi gia đình gặp chuyện bối rối sẽ tìm được cho người thân của mình một nơi an nghỉ thật tốt! Hoặc quý vị muốn lo trước chuyện hậu sự cho người thân của...

Hiện trạng và các vấn đề đặt ra cho công tác xây dựng nghĩa trang tại các đô thị

Hiện trạng tình hình sử dụng đất, công nghệ mai táng, tổ chức không gian, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và môI trờng của một số nghĩa trang đô thị Việt Nam


Các loại hình nghĩa trang đô thị đang sử dụng ở Việt Nam

Các loại hình nghĩa trang đang tồn tại ở các đô thị Việt Nam hiện nay khá phong phú, đa dạng. Chúng được phân loại phụ thuộc theo công nghệ táng, phương cách quản lý, tín ngưỡng, tôn giáo ..

Phân loại theo công nghệ táng dân tộc:

1. Nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế nằm phổ biến ở hầu hết các dân tộc Việt Nam.
2. Nhà mồ phổ biến ở một số dân tộc ít ngời miền núi cao Trung Trung Bộ và Tây Nguyên nhà mồ là nơi lưu giữ hài cốt trên mặt đất sau khi bốc mộ).
3. Nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế ngồi của đồng bào Chăm.

Phân loại theo phương cách quản lý:    

1. Loại hình nghĩa trang công cộng do chính quyền quản lý như: nghĩa trang nhân dân, nghĩa trang nhân dân đô thị, nghĩa trang liệt sỹ;
2. Loại hình nghĩa trang tôn giáo do các tổ chức tôn giáo thành lập và quản lý như: nghĩa trang của các chức sắc tôn giáo, nghĩa trang dành riêng cho các tín đồ tôn giáo.
3. Loại hình nghĩa trang hội đoàn do các tổ chức hội đoàn nghề nghiệp, hội đoàn đồng hương và các bang hội người Hoa thành lập và quản lý như: Nghĩa trang chùa nghệ sỹ (Tp Hồ Chí Minh), nghĩa trang của các bang hội người Hoa (bang Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,...).
4. Loại hình nghĩa trang thuộc sở hữu tư nhân do người dân tự thành lập và quản lý trên phần đất được giao quyền sử dụng như: các nghĩa trang gia đình, nghĩa trang dòng họ,...

Phân loại theo công nghệ táng:

1. Nghĩa trang địa táng: nghĩa trang Yên Kỳ (Hà Tây); nghĩa trang Thanh Tước (Vĩnh Phúc),… Trong địa táng, lại được chia thành:
a) Nghĩa trang hung táng (nơi diễn ra quá trình phân hủy các tổ chức phần mềm cơ thể, xương cốt sau đó được bốc đưa đi nơi khác) như: nghĩa trang Hưng Lộc (Vinh), nghĩa trang Cầu Họ (Nam Định),...
b) Nghĩa trang chôn cất một lần (nghĩa trang hung táng nhưng không cải táng bốc xương cốt) như: nghĩa trang Đa Phước (thành phố Hồ Chí Minh), nghĩa trang Thủy An (Huế),…
c) Nghĩa trang cát táng (chỉ chôn cất xương cốt) như: nghĩa trang Yên Kỳ (Hà Tây), nghĩa trang Nghi Phú (Vinh),...
d) Nghĩa trang hung táng và chôn cất một lần, nghĩa trang hung táng và cát táng,.... như: nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội), nghĩa trang Truông Bồng Bông (Thủ Dầu Một),…
2. Nghĩa trang địa táng và kết hợp hoả táng: nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội), nghĩa trang Bình Hưng Hòa (thành phố Hồ Chí Minh),...

Phân theo vùng địa lý và theo phong tục tập quán truyền thống:

1. Từ vĩ tuyến 17 trở ra: nghĩa trang hung táng và nghĩa trang cát táng phân bố chủ yếu ở các khu vực người Kinh sinh sống.
2. Từ vĩ tuyến 17 trở vào: phổ biến là nghĩa trang chôn cất một lần.

Trong tất cả các loại nghĩa trang trên, nghĩa trang hung táng là nghĩa trang tiềm ẩn khả năng tác động đến môi trường đất, nước ngầm lớn nhất, tiếp sau đến nghĩa trang chôn một lần và cuối cùng là nghĩa trang cát táng.
 

Thực trạng về quản lý sử dụng các nghĩa trang đô thị

Do nghĩa trang nhân dân đô thị là một hệ thống hạ tầng xã hội thiết yếu nằm dưới sự đầu tư, xây dựng và quản lý của chính quyền đô thị, nên hiện công tác quy hoạch xây dựng nghĩa trang nhân dân đô thị thường cũng đã được đề cập trong nội dung nghiên cứu của các đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị

Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát thực tế tại 15 đô thị từ loại đặc biệt đến loại V (thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Nha Trang,…) cho thấy, trong nội dung quy hoạch chung, tại phần hiện trạng, phần lớn các đồ án chỉ dừng ở mức nêu tên, vị trí, diện tích nghĩa trang nhân dân hiện có, hoàn toàn không đề cập đến công nghệ táng cũng như hiện trạng công tác quản lý quy hoạch, xây dựng nghĩa trang.

Về định hướng quy hoạch phát triển lâu dài, nội dung một số đồ án quy hoạch chung cũng chỉ đưa ra địa điểm, diện tích xây dựng nghĩa trang nhân dân theo một số quy định chưa đầy đủ của Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4449:1987 về quy hoạch xây dựng đô thị và Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam 1997 và đề xuất áp dụng thêm công nghệ táng (hỏa táng) mà không giải thích cơ sở lựa chọn cũng như không đề cập đến khoảng cách đến khu dân cư gần nhất và hệ thống hạ tầng kỹ thuật của nghĩa trang.

Thậm chí một số đồ án quy hoạch chung còn không đề cập bất cứ thông tin vào về vấn đề hiện trạng và quy hoạch nghĩa trang nhân dân đô thị, kể cả về vị trí lẫn quy mô diện tích.
 
Thực trạng SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG

Teo các số liệu thống kê, hiện nay tỷ lệ diện tích đất nghĩa trang trong các đô thị khá lớn. Trong đó, đa phần (chiếm 80%) là các nghĩa trang nhân dân riêng của các phường, xã, làng, bản, cụm dân cư vẫn đang hoạt động không thuộc sự quản lý của chính quyền địa phương.

Trong các nghĩa trang nhân dân đô thị đã khảo sát, hiện tại tỷ lệ sử dụng diện tích đất dùng cho mai táng là khá cao, lên tới 60-90% tổng diện tích đất nghĩa trang. Diện tích đất dành cho giao thông nội bộ hiện thường chiếm từ 9,35-20,07%; diện tích đất dành cho cây xanh là từ 0-16%.
 
Diện tích sử dụng đất các mộ hung táng và chôn cất một lần thường chiếm khoảng 8-12 m2 và có nơi là 16 m2, riêng tại thành phố Hà Nội diện tích này là 5,1 m2.
Diện tích các mộ cát táng thông thường khoảng 3,7-4,6 m2. Khoảng cách giữa hai hàng mộ từ 0,5-1 m, còn khoảng cách giữa hai mộ liên tiếp cùng hàng từ 0,4-0,6 m.
 
Thực trạng công nghệ táng

Hiện tại công nghệ táng chủ yếu vẫn là địa táng theo hai hình thức là chôn ba năm tiến hành cải táng phổ biến ở khu vực sinh sống của đồng bào dân tộc Kinh từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc và chôn cất một lần không cải táng từ khu vực vĩ tuyến 17 trở vào Nam.

Ngoài địa táng, hỏa táng (thủ công hoặc trong các lò đơn giản) cũng  là một hình thức táng khá phổ biến tại các khu vực có đông đồng bào dân tộc Khơ-me theo đạo Phật sinh sống, nhất là khu vực miền Tây Nam Bộ.

Từ năm 1995 đến nay, hình thức hỏa táng theo công nghệ hiện đại đã được du nhập vào một số đô thị Việt Nam và dần trở thành một hình thức táng khá phổ biến, bắt đầu từ thành phố Hà Nội (năm 1995), thành phố Hồ Chí Minh (1998), Vũng Tàu, Nha Trang,… Thành phố Hà Nội, năm 2000, tỷ lệ sử dụng hỏa táng theo công nghệ hiện đại đạt 10,14% và năm 2004 là 32%.

Thực trạng tổ chức không gian và hệ thống hạ tầng kỹ thuật

Trong số 15 đô thị đã được tiến hành khảo sát thực tế, có tới 4 đô thị có các nghĩa trang nhân dân nằm xen kẽ giữa các điểm dân cư (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Buôn Mê Thuột, Krông Pắc). Đặc biệt, trong tất cả các nghĩa trang đô thị đã được khảo sát đều không có hệ thống thoát nước mưa, hệ thống thu gom và xử lý nước thấm.

Nhiều nghĩa trang hệ thống các tuyến giao thông nội bộ này gần như không có, thậm chí còn thiếu cả các công trình phụ trợ như: tường rào, nhà linh, nhà quản trang, bãi đỗ xe, hệ thống cấp nước...  

Việc quản lý các nghĩa trang nhân dân còn lỏng lẻo, lực lượng của đội quản trang quá mỏng vừa làm nhiệm vụ quản lý nghĩa trang vừa trông coi, bảo vệ nghĩa trang nên việc chăm sóc, vệ sinh nghĩa trang không được thường xuyên, dẫn tới cảnh quan khu vực nghĩa trang hiện khá lộn xộn.

Thực trạng chất lượng môi trường

Theo các kết quả khảo sát chất lượng môi trường đã được thực hiện tại một số nghĩa trang đô thị và điểm dân cư xung quanh (thực hiện tại khu vực các nghĩa trang đô thị của thành phố Hà Nội, Huế, Việt Trì, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Sầm Sơn) về chất lượng nước mặt và nước ngầm cho thấy:

So với Tiêu chuẩn 505 BYT/QĐ ngày 13/4/1992 của Bộ Y tế về vệ sinh đối với chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt thì: Độ pH thường là axit, hàm lượng Coliform từ 20-3.667 lần, hàm lượng BOD5 và COD của nước mặt và nước ngầm vượt quá từ 2 đến hơn 15 lần, hàm lượng NO3- gấp từ 2-100 lần.

Các vấn đề đặt ra cho công tác xây dựng nghĩa trang tại các đô thị
 
Quan điểm nhân văn về nghĩa trang

Từ xa xưa, người Việt Nam – với đa số là người Kinh, đã chú trọng đến việc chôn cất người chết và xây dựng các nghĩa trang. Ngày nay, việc chôn cất và tổ chức các nghĩa trang cho người đã khuất đã trở nên phức tạp hơn so với trước kia, đồng thời vấn đề này cũng tạo ra sự quan tâm nhiều hơn của các cộng đồng, các dân tộc trên thế giới.
 
Nghĩa trang là nơi thể hiện văn hoá, văn minh cộng đồng, dân tộc được tổ chức theo một trật tự xã hội nhất định, có kèm theo những qui định hoặc luật lệ về bố cục không gian, tôn giáo, tín ngưỡng hay phong tục tập quán.

Không chỉ là nơi đơn thuần an táng người đã khuất mà nó còn chứa đựng những ý nghĩa về mặt tâm linh, là nơi mà người sống bày tỏ những tình cảm, sự tiếc thương đối với người đã khuất.
Phải coi nghĩa trang như một bộ phận cấu thành bản kiến trúc của mỗi vùng miền, mỗi sắc tộc, cộng đồng dân cư.

Thực tế đã có khá nhiều nghĩa trang chôn cất vĩnh viễn bị lọt vào giữa đô thị do tốc độ phát triển đô thị quá nhanh, do không dự đoán được khả năng mở rộng đô thị… dẫn đến tình trạng các nghĩa trang gần như không đảm bảo khoảng cách ly đến các công trình xung quanh, không đảm bảo được cảnh quan đô thị, cản trở việc phát triển của các đô thị, khu vực phát triển kinh tế.

Theo con số thống kê đến thời điểm năm 2002 cho thấy, đất nghĩa trang đang chiếm một diện tích khá lớn so với tỷ lệ đất xây dựng đô thị, cao nhất tại thành phố Huế là 2,88% (một số nước trên thế giới tỷ lệ này chỉ chiếm 1-1,2%). Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ chiếm đất cao là quan niệm của người dân hết sức bảo thủ với xu hướng chôn 3 năm mới bốc mộ còn phổ biến, thậm chí một số nơi còn chôn vĩnh viễn, hạn chế không thích ứng với công nghệ chôn cất hiện đại như hoả táng.
 
Mô hình nghĩa trang

Các nghĩa trang đô thị nên được quan niệm như sau:    
    + Vườn nghĩa trang: loại qui mô chiếm đất nhỏ từ 2-20ha
    + Nghĩa trang công viên: loại qui mô chiếm đất trung bình từ 20-200ha
    + Công viên nghĩa trang: loại qui mô chiếm đất lớn từ 200-2000ha.
 
Lựa chọn địa điểm xây dựng nghĩa trang

Đối với nghĩa trang hiện có:

Cải tạo, chỉnh trang nghĩa trang hiện có thành vườn nghĩa trang không nên di dời ( “mồ yên mả đẹp” ).

Đối với địa điểm xây dựng nghĩa trang mới    
+ Các yếu tố điều kiện tự nhiên : khí hậu, gió, nước ngầm, địa lý cảnh quan…
+ Các yếu tố kinh tế xã hội: Tổng qũy đất có thể xây dựng nghĩa trang, ảnh hưởng đất nông nghiệp, dân cư, tính khả thi, kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng…
+ Các yếu tố về kỹ thuật, môi trường: Hệ thống giao thông, điều kiện giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, điều kiện xử lí các tác nhân ô nhiễm môi trường, khoảng cách tới các đô thị…

Quan điểm khoa học về nghĩa trang
- Sử dụng tài nguyên đất và nước một cách tiết kiệm, hợp lý, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường.
- Nghĩa trang đô thị là công trình vĩnh hằng (200 năm, xa hơn) có ý thức về mặt xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, phong thuỷ tâm linh… có ảnh hưởng tốt đến cuộc sống tinh thần, văn hoá của người đang sống.
-  Khả thi và có hiệu quả kinh tế cho môi trường đầu tư.
- Nghĩa trang đô thị – là đô thị cho người âm và hội tụ đủ các yếu tố Thiên - Địa – Nhân.
 
Hiệu quả đầu tư

1. Hiệu quả văn hóa xã hội
2. Hiệu quả khoa học công nghệ
3. Hiệu quả kinh tế
4. Hiệu quả khả thi
- Tiết kiệm cho toàn đô thị, tránh lãng phí trong việc tổ chức tang lễ và xây mộ.
- Sử dụng có hiệu quả, ổn định và bền vững tài nguyên đất và nước.
- Tạo sự hoàn thiện phát triển bền vững cho môi trường sống đô thị.
- Tạo công ăn việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo của nhân dân vùng ngoại tự – nơi có nghĩa trang.
- Phát triển du lịch, ngành nghề mới, thu hút đầu tư.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Thông tin chung

Giới thiệu về NghiaTrang.NET

Khi lập trang web này, chúng tôi muốn giới thiệu đến quý vị một Nghĩa trang công viên đẹp, vì hiện nay thông tin về đất nghĩa trang thật ít ỏi, để khi gia đình gặp chuyện bối rối sẽ tìm được cho người thân của mình một nơi an nghỉ thật tốt! Hoặc quý vị muốn lo trước chuyện hậu sự cho người thân của...

Thống kê

Đang truy cập : 52


Hôm nay : 57

Tháng hiện tại : 5801

Tổng lượt truy cập : 579106

Thăm dò ý kiến

Bạn muốn đặt mộ cho người nhà tại

Miền Bắc

Miền Trung

Miền Nam

Nước Ngoài